Vợ, Chồng Có Quyền Có Tài Sản Riêng Không?

Hỏi: Tôi đã kết hôn, mẹ tôi mới cho tôi một số tiền lớn để mua nhà (chưa làm GCN QSD đất) nhưng mẹ tôi lại lo sau này nếu vợ chồng tôi chung sống không hoà thuận và trường hợp xấu nhất phải ly hôn thì căn nhà sẽ phải chia đôi.

Tôi xin hỏi: Việc tôi đứng tên một mình trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có được coi là tài sản riêng của tôi hay không? Tôi phải làm thế nào để căn nhà tôi mua do tiền của mẹ tôi cho sẽ là tài sản của riêng tôi và nếu vợ chồng tôi có ly hôn sẽ không bị chia?
Nguyễn Như Mai (Gia Lâm, Hà Nội)

Trả lời: 

Việc một mình bạn đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có nghĩa đó là tài sản riêng của bạn.

Tuy bạn đã kết hôn nhưng bạn vẫn có quyền có tài sản riêng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 32 - Luật Hôn nhân và Gia đình thì: “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1, Điều 29 và Điều 30 của luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân”. Và vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung (khoản 2, Điều 32 - Luật Hôn nhân và Gia đình).

Theo quy định về việc ghi tên người sử dụng đất trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì nếu quyền sử dụng đất thuộc về cá nhân nào thì trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ ghi tên cá nhân đó (khoản 5 Điều 43 - Nghị định 181/2004/NĐ-CP về thi hành Luật Đất đai).

Căn cứ vào 2 điều luật trên, nếu căn hộ bạn mua là tài sản mẹ bạn tặng riêng cho bạn thì đương nhiên đó là tài sản của bạn và bạn được đứng tên một mình trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với căn hộ bạn mua. Khi bạn không sáp nhập tài sản này vào khối tài sản chung vợ chồng, nếu vợ chồng bạn có ly hôn thì tài sản này vẫn là tài sản riêng của bạn và sẽ không bị chia.

Tại khoản 5, Điều 43 - Nghị định 181/2004/NĐ-CP về thi hành Luật Đất đai quy định: Quyền sử dụng đất là tài sản chung của cả vợ và chồng thì ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng; nếu hộ gia đình đề nghị chỉ ghi họ, tên vợ hoặc họ, tên chồng thì phải có văn bản thoả thuận của vợ và chồng có chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn. Do đó, nếu bạn nhập căn hộ này vào khối tài sản chung của cả hai vợ chồng thì đấy là tài sản chung vợ chồng. Khi đó, nếu bạn muốn một mình đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải có văn bản thoả thuận của vợ và chồng có chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn.
LS Bùi Sinh Quyền
(Theo ANTĐ)

Mua Đất Thuộc Sở Hữu Chung

Hỏi: Tôi đang định mua một lô đất có diện tích 4mx10m tại ấp 6 xã Đông Thạnh, Hóc Môn, Tp.HCM. Lô đất này có sổ đỏ chung với chủ, có thổ cư (một nguời đứng tên) và được người chủ này phân ra làm 8 lô, mỗi lô 4mx10m. Hiện người chủ này đã bán hết 6 lô và 6 lô này đã xây nhà ở, còn 2 lô, tôi định mua một lô.

Xin hỏi, nếu mua lô đất trên tôi có thể làm sổ đỏ riêng hay vẫn chung sổ đỏ với chủ? Có xin chuyển đổi công năng và xây nhà được không?

Nếu chung sổ đỏ tôi cần làm những gì để sau này không bị tranh chấp và tách sổ được dễ dàng.

dat nguyen tien


Trả lời:

1. Quy định về diện tích đất tối thiểu được tách thửa trên địa bàn huyện Hóc Môn, Tp.HCM

Tại địa bàn huyện Hóc Môn, đối với đất ở, để được tách thửa, thửa đất mới hình thành và thửa đất còn lại, sau khi trừ lộ giới, phải đáp ứng diện tích tối thiểu như sau:

- Đối với đất ở chưa có nhà, diện tích tối thiểu 120m2 và chiều rộng mặt tiền không nhỏ hơn 7m;

- Đối với đất ở có nhà hiện hữu, diện tích tối thiểu theo yêu cầu 80m2 và chiều rộng mặt tiền không nhỏ hơn 5m.

(Quyết định số 19 ngày 25-2-2009 của UBND Tp.HCM quy định về diện tích đất tối thiểu sau khi tách thửa - sau đây gọi là Quyết định số 19).

Theo đó, lô đất có diện tích 4mx10m mà bạn định mua không đủ chuẩn để được tách thửa theo quy định nêu trên.

2. Đứng tên chung trên giấy chủ quyền

Việc đứng tên chung trên giấy chủ quyền như trong thư bạn nêu, được thực hiện khi bạn đồng thời đứng tên trên hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất đã được công chứng hoặc chứng thực.

Tuy nhiên, với thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích đất tối thiểu để được tách thửa theo quy định tại Quyết định số 19 nêu trên, bạn không thể được công chứng hoặc chứng thực hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất.

Lý do, theo quy định, Cơ quan công chứng, UBND cấp xã không được làm thủ tục công chứng, chứng thực chuyển quyền sử dụng đất đối với trường hợp tách thửa đất thành hai hoặc nhiều thửa đất trong đó có một hoặc nhiều thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích đất tối thiểu theo quy định (Nghị định số 84 ngày 25-5-2007 quy định bổ sung về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… của Chính phủ).

Từ thực tế này, bạn có thể thỏa thuận với những người nhận chuyển nhượng các diện tích đất liền kề nhằm đảm bảo thửa đất có diện tích tối thiểu được tách thửa (đối với đất chưa có nhà: diện tích tối thiểu 120m2 và chiều rộng mặt tiền không nhỏ hơn 7m; đối với đất có nhà: diện tích tối thiểu 80m2 và chiều rộng mặt tiền không nhỏ hơn 5m) cùng chuyển nhượng thửa đất, có nghĩa cùng đứng tên trên cùng một hợp đồng chuyển nhượng đất có công chứng hoặc chứng thực.

Khi đó, nếu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bạn và những người cùng nhận chuyển nhượng chung thửa đất cùng được đứng tên chung trên một giấy chứng nhận.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp này sẽ được cấp riêng cho từng người. Vì là tài sản chung, việc định đoạt thửa đất phải được tất cả các đồng sử dụng quyết định, trong đó có cả vợ hoặc chồng của các đồng sử dụng đất…

Đối với việc xây dựng nhà trên đất, cũng do các đồng sử dụng đất cùng quyết định.

Việc bảo vệ quyền lợi của những người cùng là đồng sở hữu nhà, đồng sử dụng đất trong trường hợp cùng đứng tên chung trên giấy chủ quyền hoàn toàn do thỏa thuận của các bên. Các đồng sở hữu nhà, đồng sử dụng đất nên có văn bản thỏa thuận thể hiện rõ việc sở hữu nhà, việc sử dụng đất của mỗi người trên thực tế.

Kèm theo văn bản này là bản vẽ hiện trạng nhà, đất, trong đó có thể hiện ranh giới, phần nhà và đất mà mỗi người sở hữu, sử dụng trên thực tế.

Đồng thời trên bản vẽ này phải có xác nhận của tất cả các đồng sở hữu nhà, đồng sử dụng đất, bao gồm cả vợ hoặc chồng của họ. Bạn có thể nhờ các công ty có chức năng đo đạc thực hiện việc đo vẽ này.

Trân trọng.
LS ĐOÀN THỊ NGỌC LINH
(Theo Tuổi trẻ)

Sử Dụng Đất Mua Chung

Hỏi: Tôi và người bạn mua chung một lô đất ở huyện Củ Chi. Trước khi đi công chứng, chúng tôi muốn chia đất ra hai phần để sau đó mỗi người đứng tên trên hai giấy chứng nhận khác nhau thì có được không? Thành Công (thanhcongvinawaco@...)


Trả lời:

Nếu đất trên chỉ có một giấy chứng nhận thì người bán phải lập bản vẽ tách thửa rồi sau đó cùng hai người mua đi công chứng hai hợp đồng chuyển nhượng đất. Sau đó, mỗi người mua có thể nộp hồ sơ đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện để được cấp hai giấy chứng nhận khác nhau cho hai phần đất khác nhau đã mua.

Theo Quyết định số 19 ngày 25/2/2009 của UBND Tp.HCM (quy định về diện tích đất tối thiểu sau khi tách thửa), tại huyện Củ Chi, thửa đất mới hình thành và thửa đất còn lại sau khi trừ lộ giới phải đảm bảo diện tích tối thiểu là 120 m2 và chiều rộng mặt tiền không nhỏ hơn 7 m (đối với đất ở chưa có nhà) hoặc 80 m2 và chiều rộng mặt tiền không nhỏ hơn 5 m (đất ở có nhà hiện hữu). Như vậy, nếu miếng đất không đảm bảo diện tích này thì hai người buộc phải đứng tên mua chung. Khi đó, UBND huyện sẽ cấp một giấy chứng nhận cho người đại diện (căn cứ vào văn bản thỏa thuận của hai người cùng sử dụng đất có công chứng, chứng thực theo quy định) hoặc cấp hai giấy chứng nhận cho hai người sau khi đã xác định được quyền sử dụng đất của từng người kèm theo lưu ý “cùng sử dụng đất đối với người khác”.
LS Lê Bửu Thành
(Theo PL TPHCM)

Điều Kiện, Thủ Tục Chuyển Đổi Đất Nông Nghiệp Thành Đất Ở

Hỏi: Trước đây, gia đình tôi có mua một mảnh đất nông nghiệp, (loại đất 5%, giấy tờ viết tay) ở khu vực ngoài đê sông Hồng thuộc phường Phúc Xá, quận Ba Đình.
Đề nghị quý báo giải đáp giúp điều kiện, thủ tục và tôi phải nộp phí như thế nào nếu được chuyển đổi mảnh đất trên thành đất thổ cư? Vì tôi nghe nói thành phố Hà Nội có chủ trương đất bãi ven sông, đất nông nghiệp cũng có thể chuyển đổi thành đất ở. (Lê Thành Hưng, Trú tại tổ 3, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, Hà Nội)



Trả lời:


Do bạn không nêu rõ vị trí cụ thể mảnh đất, nên Văn phòng luật sư Hoàng Phú xin được trả lời như sau:

Hiện nay, theo Quyết định 121/2009/QĐ-UBND do UBND TP Hà Nội ban hành quy định về trình tự, thủ tục cho phép hộ gia đình, cá nhân chuyển mục đích sử dụng đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở trong khu dân cư nhưng chưa được công nhận là đất ở và đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư (không thuộc đất công) sang đất phi nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội thì mảnh đất của bạn có thể được chuyển đổi thành đất ở.

Điều kiện, thủ tục, phí chuyển đổi như sau:

Điều kiện

- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất và có GCNQSD đất theo quy định của pháp luật đất đai.

- Chấp hành tốt pháp luật đất đai địa phương, được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận và có bản cam kết.

- Diện tích đất xin chuyển mục đích sang sử dụng làm nhà ở hoặc để sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất hoặc chi tiết xây dựng đô thị hoặc xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được phê duyệt; không nằm trong chỉ giới mở đường quy hoạch, phạm vi hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng sông, kênh, mương, di tích lịch sử văn hoá…

Thủ tục: Nộp 01 bộ hồ sơ tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, quận, thị xã gồm:

- Đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất
- Phương án sản xuất kinh doanh
- Bản sao GCNQSD đất
- Bản sao hộ khẩu thường trú, CMND
- Giấy tờ khác theo quy định.

Phí chuyển đổi

- Thu tiền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định 17/2006/NĐ-CP và Nghị định 198/2004/NĐ- CP. Giá đất để tính tiền sử dụng đất sẽ được UBND quận, huyện, thị xã quyết định phê duyệt theo đề nghị của Phòng Tài chính.
Luật sư Đỗ Xuân Bình, Văn phòng luật sư Hoàng Phú
(Theo PL&XH)

Mua Nhà Giấy Tay Có Được Cấp "Sổ Đỏ"?

Hỏi: Tôi có mua giấy viết tay một căn nhà vào năm 2006. Căn nhà này xây dựng không phép trước năm 2003. Nhà đó có thông báo tạm cấp số nhà năm 2005. Vậy tôi có thể làm thủ tục đề nghị cấp sổ đỏ được không? (Nguyenmai78@gmail.com)



Trả lời:

Theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 8 Nghị định số 88 ngày 19/10/2009 của Chính phủ, trường hợp cá nhân trong nước không có một trong những giấy tờ quy định thì phải có giấy tờ xác nhận của UBND cấp xã, phường về nhà ở đã được xây dựng trước ngày 1/7/2006 (ngày Luật Nhà ở có hiệu lực), nhà ở không có tranh chấp, được xây dựng trước khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng hoặc phải phù hợp quy hoạch đối với trường hợp xây dựng sau khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị…

Nếu nhà của bạn hội đủ các điều kiện trên, bạn có thể liên hệ với UBND quận nơi có căn nhà để nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và nhà ở.
Luật sư Vũ Văn Lợi
(Theo PL&XH)

Pháp Luật Có Bảo Vệ Những Người Mua Nhà Bằng Giấy Tay?

Hỏi: Năm 2009 gia đình tôi mua một ngôi nhà 4 tầng tại Lò Đúc (Hà Nội) của gia đình anh A, chưa có sổ đỏ. Trong đó tầng hai có một khoảng không tranh chấp với gia đình bà B. Tầng 1 là bếp gia đình bà B, tầng 2 là của anh A, trồng cây cảnh.

Khi nhà tôi đến ở đã hàn lại lồng sắt ở tầng hai chỗ trồng cây cảnh. Khi chúng tôi đi làm thì nhà bà B lên phá bỏ lồng sắt ở tầng hai và phá cả lồng sắt bên nhà tôi.

Chúng tôi đã làm đơn ra phường, phường giải quyết, bảo đó là khoảng không gian chung hai bên không được sử dụng và để nguyên trạng. Nhưng ba năm sau, đến ngày 30/6/2011 gia đình bà B tự ý hàn sắt để đặt bể nước lên khoảng không đó và dùng tôn quây kín lại.

Xin hỏi gia đình bà B có vi phạm Luật đất đai không? Gia đình tôi phải làm gì để tháo dỡ bể nước và tấm tôn của gia đình họ? Pham ThuHa (thuha17032004@... )

Trả lời

Do căn nhà trên chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thời điểm mua bán, việc mua bán bằng giấy tay (không có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) lại diễn ra sau ngày 1/7/2004 nên việc giao dịch mua bán nhà giữa bạn và anh Trung sẽ không được pháp luật thừa nhận và bị vô hiệu theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành.

Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Mặc dù vậy, bạn vẫn có thể liên hệ đến cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết tranh chấp theo luật định. Do chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là “giấy chứng nhận”) nên tùy thuộc vào việc bạn có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 điều 50 Luật đất đai hay không mà thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của bạn sẽ là tòa án nhân dân có thẩm quyền hay UBND.

Cụ thể:

+ Nếu không có giấy chứng nhận, cũng không có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 điều 50 Luật đất đai thì bạn có thể gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tới UBND cấp huyện nơi có đất.

+ Trường hợp ngược lại, nếu có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 điều 50 Luật đất đai thì bạn có quyền gửi đơn khởi kiện đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi có nhà đất để được giải quyết tranh chấp.

Lưu ý: Tranh chấp của bạn phải trải qua bước hòa giải tại UBND cấp xã nơi có nhà đất, trước khi nộp đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đến cơ quan có thẩm quyền.

Luật sư Nguyễn Văn Hậu
(www.legalvn.com)

(Theo TTO)

Giải Quyết Tranh Chấp Đất Mua Bằng Giấy Tay

Hỏi: Gia đình tôi năm 1997 có mua một mảnh đất của người hàng xóm, lập giấy mua bán viết tay, có chữ ký của vợ chồng ông ấy và chứng nhận của ấp nhưng chưa có sổ đỏ.

Sau đó, gia đình tôi đã làm nhà và ở trên mảnh đất đã mua tới nay, và đã đóng thuế theo pháp luật. Hiện nay, do ngôi nhà xuống cấp, gia đình tôi đã tháo dỡ để nâng cấp. Nhưng khi thi công thì người bán đất cản trở, gây khó khăn không cho gia đình tôi làm, và nói là hồi trước chỉ mua bán bằng giấy tay không có hiệu lực nên bây giờ đòi lại mảnh đất đã bán.

Vậy, tôi muốn hỏi gia đình tôi cần làm gì để giải quyết vấn đề này và tiếp tục xây dựng nhà. Nếu ra toà án thì gia đình tôi có khả năng thắng kiện không? (Anh Huỳnh Gia Minh ở Phú Xuân - Nhà Bè)

Trả lời

Trước hết bạn cần phải hoàn tất thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc phòng tài nguyên và môi trường cấp huyện, nơi có đất nếu mảnh đất này chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ) hoặc đã có GCN nhưng vẫn còn mang tên người chủ trước đây.

Trong quá trình thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận cho bạn, nếu không có tranh chấp xảy ra thì bạn được xem xét cấp GCN QSDĐ theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp người chủ trước đây có đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp, thì việc cấp GCN sẽ tạm hoãn cho đến khi tranh chấp được giải quyết xong.

Khi có tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, thì tại điểm b.3 tiểu mục 2.3 của nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao có quy định nếu hợp đồng chuyển nhượng được xác lập từ sau ngày 15/10/1993 không có công chứng hoặc chứng thực và đất chuyển nhượng chưa có GCN QSDĐ, mà sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã làm nhà kiên cố, trồng cây lâu năm… bên chuyển nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính về đất đai thì toà án công nhận hợp đồng.

Nếu bên nhận chuyển nhượng chỉ làm nhà trên một phần đất thì toà án công nhận phần hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ phần đất có nhà ở và huỷ phần hợp đồng đối với diện tích còn lại, buộc bên nhận chuyển nhượng giao trả phần đất đó cho bên chuyển nhượng, trừ trường hợp việc giao trả không bảo đảm mục đích sử dụng cho cả hai bên giao kết hợp đồng, đồng thời buộc các bên thanh toán cho nhau phần chênh lệch.

Trong trường hợp đất đã có GCN QSDĐ hoặc các giấy tờ về QSDĐ theo khoản 1, 2 và khoản 5 luật Đất đai và hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ không đảm bảo về hình thức mà có phát sinh tranh chấp thì theo điểm b.1 tiểu mục 2.3 mục 2 nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP nếu từ ngày 1/7/2004 mới có yêu cầu toà án giải quyết, thì không coi là hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện này.

Như vậy, trong trường hợp này, nếu những điều kiện khác để hợp đồng có hiệu lực vẫn được đảm bảo như chủ thể của hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, giao kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện và mục đích, nội dung của hợp đồng không trái với pháp luật và đạo đức xã hội thì hợp đồng này không bị xem là vô hiệu, các bên được hưởng quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ của mình tương ứng quy định trong hợp đồng. Sau khi có kết quả giải quyết tranh chấp của TAND có thẩm quyền, UBND cấp huyện nơi có đất sẽ căn cứ trên bản án, quyết định của toà án để cấp GCN QSDĐ.

Khi hoàn tất các thủ tục và được cấp GCN QSDĐ, bạn phải làm thủ tục yêu cầu cấp giấy phép xây dựng tại UBND xã Phú Xuân để tiến hành xây dựng nhà một cách hợp pháp.

LS Nguyễn Văn Hậu
(Theo Landtoday)

Có Được Bán Đất Mua Chung Không?

Hỏi: Tôi và một người bạn dự đinh mua một thửa đất tại xã Tân An, Thủ Dầu Một, Bình Dương diện tích 8,5mx29m và có 40m thổ cư còn lại là đất nông nghiệp trồng cây lâu năm.

Sau khi mua lô đất này tôi và người bạn có thể tách ra hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được không. Vì hiện tại nếu mua thì cả hai người phải đứng tên chung trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Còn nếu không tách ra được thì khi làm hai cái nhà trên mảnh đất đó có được không và khi một người cần bán thì phải làm sao? Nguyễn Tiến Thành, (tienthanh1905@...)

Trả lời

Căn cứ điều 3 quyết định 36/2011/QĐ-UBND ngày 12/9/2011 của UBND tỉnh Bình Dương quy định diện tích tối thiểu các loại đất được phép tách thửa trên địa bàn tỉnh Bình Dương, tại các xã thuộc thị xã, diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với đất ở là 100m2 và đất nông nghiệp là 400m2 với chiều rộng mặt tiền từ 4m trở lên. Trường hợp thửa đất ở gắn liền đất nông nghiệp, chỉ áp dụng diện tích tối thiểu đối với đất ở.

Theo đó, dù trên đất có nhà hay không, khi tách thửa vẫn phải đảm bảo diện tích tối thiểu sau khi tách thửa theo quy định trên. Trong trường hợp của bạn, tuy diện tích định mua có thể được phân chia thành hai thửa đáp ứng yêu cầu diện tích tối thiểu 100m2 và chiều rộng mặt tiền từ 4m trở lên, nhưng diện tích đất này chỉ có 40m2 đất ở, còn lại là đất nông nghiệp.

Do đó, để có thể tách thửa đáp ứng yêu cầu diện tích tối thiểu tách thửa đối với đất ở, trước hết bạn cần làm thủ tục xin phép chuyển mục đích sử dụng cho phần đất trồng cây lâu năm sang đất ở. Sau đó, có thể tiến hành thủ tục xin phép tách thửa mà không cần thiết phải xây dựng hai căn nhà trên đất.

Trường hợp một người cần chuyển nhượng phần quyền sử dụng đất của mình dẫn đến việc tách thửa thì việc tách thửa cũng chỉ được tiến hành sau khi thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng nêu trên.
Tiến sĩ luật Đặng Anh Quân
(Theo TTO)

Cách Phân Biệt Tài Sản Chung Và Riêng Của Vợ, Chồng?

Hỏi: Anh trai tôi sau khi kết hôn thì mua một căn nhà để ở, trong đó phần lớn tiền mua nhà là của bố mẹ tôi cho. Vậy, khi ly hôn thì anh tôi có phải chia đôi căn nhà này không? (Lê Văn An, email: Levanan2688@gmail.com).



Trả lời

Khi ly hôn, việc chia tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó;  Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi.

Tại khoản 1 Điều 27 LHNGĐ quy định như sau: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung”.

Căn nhà được mua trong thời kì hôn nhân. Phần lớn tiền mua nhà là bố mẹ cho nhưng tài sản tặng cho, về nguyên tắc, nếu không được tuyên bố rõ là tặng cho riêng, thì sẽ là tài sản chung. Việc tuyên bố là tặng cho riêng phải xảy ra ngay lúc tặng cho tài sản, cụ thể là trong hợp đồng tặng cho giữa bố mẹ người chồng và người chồng, căn cứ vào đó, giấy tờ pháp lý sẽ chỉ đứng tên riêng của người chồng mà thôi. Trong trường hợp này tài sản đã đứng tên 2 vợ chồng, có nghĩa là khi tặng cho đã không tuyên bố là tặng cho riêng, vì vậy, số tiền cho mua nhà được coi là tài sản chung cho nên căn nhà là tài sản chung của 2 vợ chồng.

Việc chia tài sản (căn nhà) được căn cứ Theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 95 LHNGD 2000: “Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập”. Trong trường hợp này nếu như anh bạn có đủ căn cứ chứng minh được phần đóng góp cao hơn thì anh bạn sẽ được tòa chia cho phần hơn so với người vợ.
Luật sư Ngô Thị Lựu
(Theo Dantri)

Bên Bán Không Thể Công Chứng Hợp Đồng Có Phải Đền Cọc?

Hỏi: Ngày 27/10/2011 chúng tôi ký hợp đồng đặt cọc (HĐĐC) mua một phần đất ở 65m2 trên tổng diện tích 127m2 nhà đất và đã đặt cọc 10% giá trị HĐ cho bên bán (300 triệu đồng) ngay sau khi ký (27/10/2011).



Theo nội dung HĐĐC, khi hết thời hạn đặt cọc (60 ngày kể từ ngày ký), nếu bên B từ chối và/hoặc không thực hiện được việc chuyển nhượng và tách thửa với bất kỳ lý do gì thì giao dịch bị hủy bỏ, bên B phải hoàn trả tiền đặt cọc và bồi thường thêm một khoản tiền bằng với số tiền đặt cọc, cụ thể bồi thường 600 triệu đồng ngay khi giao dịch bị hủy bỏ.

Cũng theo hợp đồng: ngày 7/11/2011 hai bên sẽ ra công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng (HĐCN), thế nhưng việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng vẫn chưa được thực hiện vì bên bán đưa ra nhiều lý do: phần đất còn lại họ xây không đúng giấy phép nên phải xin lại GPXD, rồi hoàn công, tách thửa...

Cho đến nay họ vẫn không thể cam kết khi nào có thể ra công chứng. Vậy nay nếu chúng tôi khẳng định không mua nữa thì:

a/ Chúng tôi có bị mất tiền cọc?

b/ Chúng tôi có quyền đòi trả lại tiền cọc và bồi thường số tiền tương đương số tiền cọc như “điều 358 Bộ luật dân sự năm 2005”?

c/ Nếu họ vẫn không chịu trả thì chúng tôi cần làm tiếp các bước như thế nào để buộc họ trả tiền và bồi thường? Tưởng Thanh Sơn (haitamlong@...)

Trả lời

Trong trường hợp của ông, giao dịch chuyển nhượng nhà đất đã không thực hiện được trong thời gian mà các bên đã cam kết, có lý do xuất phát từ bên A. Như vậy, theo quy định trong hợp đồng đặt cọc, giao dịch được xem bị hủy bỏ, và trong trường hợp này ông không bị mất cọc nếu không tiếp tục việc nhận chuyển nhượng.

Ngoài ra, căn cứ theo quy định trong hợp đồng và quy định tại điều 358 Bộ luật dân sự, ông có quyền yêu cầu bên bán phải hoàn trả tiền cọc và thanh toán thêm một khoản tiền tương đương tiền cọc (tức 600 triệu đồng).

Trường hợp bên bán không trả tiền theo đúng thời hạn, ông có quyền khởi kiện tại tòa án nhân dân quận/huyện nơi bị đơn cư trú để yêu cầu bên bán thanh toán số tiền như đã nêu trên.
Luật sư Huỳnh Văn Nông
(Theo TTO)

Những Quy Định Của Pháp Luật Về Phân Chia Tài Sản Khi Ly Hôn

Hỏi: Vợ chồng tôi chung tiền mua đất với em chồng, mảng đất đứng tên em chồng tôi. Vậy, khi tôi ly hôn có được chia một phần tài sản đó không? Hiện tại thu nhập của tôi thấp hơn chồng thì có giành được quyền nuôi con không?



Trả lời

Theo khoản 1 Điều 27 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất”.

Như vậy nếu bạn có các chứng cứ chứng minh ½ số tiền mua mảnh đất mà hiện nay em chồng bạn đang đứng tên là tiền của hai vợ chồng thì ½ mảnh đất mà em chồng bạn đang đứng tên sẽ là tài sản chung của vợ chồng bạn, bạn sẽ được chia phần tài sản này khi ly hôn.

Tại khoản 2 Điều 92 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam quy định về việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn như sau: “Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác”.

Theo hướng dẫn tại điểm d Điều 11 Nghị quyết số 02/NQ-HDTP của Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao ngày 23 tháng 12 năm 2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn (Điều 92) như sau: “Trong trường hợp vợ, chồng không thoả thuận được về người trực tiếp nuôi con thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần. Nếu con từ đủ chín tuổi trở lên, thì trước khi quyết định, Toà án phải hỏi ý kiến của người con đó về nguyện vọng được sống trực tiếp với ai. Về nguyên tắc, con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi con, nếu các bên không có thoả thuận khác”.

Như vậy nếu vợ chồng bạn không thỏa thuận được ai trực tiếp nuôi con thì Tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con chứ không chỉ căn cứ vào thu nhập cao hay thấp của từng bên. Để được nuôi con bạn cần phải đảm bảo được các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần của con.
Luật sư Nguyễn Thị Phượng
(Theo Dantri)

Đất Nông Nghiệp Có Thời Hạn Sử Dụng Lâu Dài Có Được Xây Nhà Không?

Hỏi: Năm 2011 tôi mua mảnh đất ao 100m2, đất ao của hộ gia đình trong thôn. Lúc đó UBND huyện chưa làm giấy chứng nhận quyền SDĐ cho hộ gia đình bên bán nên tôi làm giấy chứng nhận mang tên mình luôn.

Trên giấy chứng nhận mảnh đất tôi mua có ghi: Mục đích sử dụng đất: Nuôi trồng thủy sản, thời hạn sử dụng đất: Lâu dài.

Vậy tôi xin hỏi nếu đất nông nghiệp tại sao mảnh đất của tôi có thời hạn sử dụng lâu dài, tôi có thể xây nhà ở được không? trungpmu89@...

Trả lời


1. Về mục đích sử dụng đất

Theo thư trình bày, thửa đất của ông/bà đang sử dụng có hiện trạng là ao và trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng chứng nhận là đất nuôi trồng thủy sản. Vì vậy, thửa đất mà ông bà đang sử dụng có mục đích sử dụng là đất nuôi trồng thủy sản, không thể có một mục đích khác.

2. Về việc xây dựng nhà trên đất vườn, ao

Hiện nay, thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận cho ông/bà. Do đó, khi xem xét điều kiện có xây dựng được nhà ở hay không, không cần căn cứ vào yếu tố thời hạn sử dụng đất mà căn cứ vào yếu tố phù hợp với quy hoạch của thửa đất.

Căn cứ trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mục đích của thửa đất mà ông/bà đang sử dụng là đất nuôi trồng thủy sản. Do đó, ông/bà có nghĩa vụ sử dụng đất đúng với mục đích đã được ghi trên giấy chứng nhận.

Trong trường hợp ông/bà muốn xây dựng nhà trên đó, phải làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nuôi trồng thủy sản sang đất ở. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, nếu thửa đất được quy hoạch là đất ở.

Sau khi thửa đất của ông bà được chuyển mục đích sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận, lúc đó ông/bà mới có quyền lập thủ tục xây dựng nhà trên đất (căn cứ điều 107 và điều 125 Luật đất đai).
Luật sư Phạm Đình Sơn
(Theo TTO)

Có Bị Xử Phạt Khi Xây Dựng Sai Giấy Phép Không?

Hỏi: Tôi đang xây dựng lại nhà của mình, đã xin giấy phép. Tuy nhiên, do có một số phát sinh về nhu cầu sử dụng nên tôi đã chủ động yêu cầu phía thi công thực hiện thêm, bớt một số hạng mục công trình; vì vậy có phần sai lệch so với giấy phép.

Xin hỏi, việc xây dựng sai lệch nhỏ so với giấy phép thì có bị cơ quan chức năng xử phạt hay không? Lê Thị Ngà  (Đường Tân Sơn, quận Gò Vấp, Tp.HCM)

Trả lời

Trong thư, bà không nói rõ đã thực hiện xây dựng thêm, bớt những hạng mục nào, vì vậy chúng tôi không thể tư vấn cụ thể cho bà được.

Tuy nhiên, chúng tôi cung cấp cho bà quy định về việc không xử phạt xây dựng sai nội dung giấy phép đối với một số hành vi.

Theo khoản 3, Điều 4 Thông tư 24 ngày 22/7/2009 của Bộ Xây dựng (Quy định chi tiết thi hành một số nội dung của Nghị định số 23/2009/ NĐ-CP ngày 27/2/2009 của Chính phủ) thì cơ quan chức năng sẽ không xử phạt xây dựng sai nội dung giấy phép xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ trong các trường hợp: Xây dựng sai vị trí hoặc thay đổi diện tích đã ghi trong giấy phép đối với những nơi chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 hoặc thiết kế đô thị đã được phê duyệt nhưng nằm trong diện tích đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của chủ nhà, không gây khiếu kiện, không lấn chiếm chỉ giới đường đỏ hoặc chỉ giới xây dựng…; Thay đổi kiến trúc bên trong công trình xây dựng mà không ảnh hưởng đến kết cấu chịu lực chính; Giảm số tầng so với giấy phép xây dựng đối với những nơi chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 hoặc thiết kế đô thị đã được phê duyệt.
Luật gia Nguyễn Văn Khôi
(Theo BaoCongly)

Công Chứng Tư Có Giá Trị Pháp Lý Như Công Chứng Nhà Nước ?

Hỏi: Gia đình tôi đang cần mua nhà tại Bắc Ninh, con tôi muốn ra phòng công chứng Nhà nước để làm thủ tục công chứng hợp đồng mua bán nhà đất vì cho rằng công chứng ở đó có giá trị pháp lý cao hơn công chứng tư nhân. Như vậy có đúng không? (Hoàng Hữu Hiển,Gia Bình, Bắc Ninh Email: huuhien@global.vn ).



Trả lời

Theo quy định tại Luật công chứng 2006 thì hình thức tổ chức hành nghề công chứng gồm có: Phòng công chứng và Văn phòng công chứng; Phòng công chứng: Phòng công chứng là đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Tư pháp, do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định thành lập; Văn phòng công chứng: Văn phòng công chứng do công chứng viên thành lập. Văn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân. Văn phòng công chứng do hai công chứng viên trở lên thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh.

Giá trị văn bản công chứng của hai loại hình tổ chức công chứng có giá trị ngang nhau, được quy định tại Điều 6 Luật công chứng: Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thoả thuận khác. Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Toà án tuyên bố là vô hiệu.

Như vậy là giá trị pháp lý của văn bản công chứng  được lập tại phòng công chứng nhà nước và văn phòng công chứng là như nhau.

Bạn có quyền lựa chọn bất kỳ tổ chức công chứng nào, dù là phòng công chứng hay văn phòng công chứng để thực hiện hợp đồng, giao dịch.
Côngchứng viên Bùi Văn Dòn
(Theo Dantri)

Giải Quyết Tranh Chấp Đặt Cọc Khi Mua Nhà

Hỏi: Ông A. đặt cọc một số tiền để mua căn hộ của tôi. Trong thỏa thuận đặt cọc có nội dung, ông A. sẽ mất khoản tiền đã đặt cọc nếu không mua nữa.

Quá ngày hẹn ký hợp đồng mua bán, ông A. đưa ra lý do bị bệnh hiểm nghèo, khoản tiền để mua căn hộ phải dành vào việc điều trị nên ông không có khả năng mua nữa... Vậy tôi có được quyền "phạt cọc" bằng cách giữ lại số tiền đã nhận đặt cọc của ông A. hay không? Hoàng Minh (quận Cầu Giấy)

Trả lời

Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự. Đặt cọc là một trong những biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự. Theo quy định tại Điều 358 Bộ luật Dân sự thì thỏa thuận về đặt cọc là một giao dịch dân sự; do đó, việc đặt cọc chỉ có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau:

- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
- Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;
- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;
- Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản.

Nếu có tranh chấp về tài sản đặt cọc, các bên có thể thương lượng với nhau. Nếu việc thương lượng không thành, một trong các bên có quyền khởi kiện ra tòa án. Việc xử lý tranh chấp hợp đồng dân sự có đặt cọc được giải quyết căn cứ vào hướng dẫn tại mục I.1 Nghị quyết số 01/2003/NQ - HĐTP ngày 16/4/2003 của Tòa án nhân dân Tối cao. Cụ thể như sau:

a) Trong trường hợp đặt cọc chỉ để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng hoặc chỉ để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng hoặc vừa để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng vừa để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng thì bên nào có lỗi làm cho hợp đồng không được giao kết hoặc không được thực hiện hoặc bị vô hiệu, thì phải chịu phạt cọc;

b) Trong trường hợp đặt cọc chỉ để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng, nếu trong quá trình thực hiện hợp đồng mới có sự vi phạm làm cho hợp đồng không được thực hiện hoặc mới phát hiện hợp đồng bị vô hiệu thì không phạt cọc;

c) Trong trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định điều kiện nếu đặt cọc vô hiệu làm hợp đồng cũng bị vô hiệu, thì hợp đồng đương nhiên vô hiệu khi đặt cọc đó vô hiệu;

d) Trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm a và c mục I.1 này, nếu cả hai cùng có lỗi hoặc trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc có trở ngại khách quan thì không phạt cọc.

Như vậy, không phải trong mọi trường hợp có thỏa thuận đặt cọc mà xảy ra tranh chấp thì đều có chế tài phạt cọc. Chỉ những trường hợp thuộc một trong hai điểm a và c như trên và không thuộc trường hợp hai bên cùng có lỗi hoặc không thuộc trường hợp gặp sự kiện bất khả kháng/trở ngại khách quan thì mới thực hiện được chế tài phạt cọc theo quy định của pháp luật. Trường hợp này, nếu ông A. chứng minh được đã xảy ra sự kiện bất khả kháng (bằng những giấy tờ chứng tỏ có việc điều trị tai biến tại bệnh viện) thì việc phạt cọc không được thực hiện.
Luật sư Vũ Thị Viên
(Theo HNM)

Có Được Bán Nhà Khi Chưa Nhận Bàn Giao Không?

Hỏi: Vợ chồng chúng tôi có mua một căn hộ chung cư ở Hà Đông, Hà Nội. Tuy nhiên, đến tháng cuối năm 2012, chủ đầu tư mới giao nhà.

Nay chúng tôi sắp đi xa nên muốn bán cho người khác để lấy tiền. Vậy tôi có thể bán nhà khi chưa được nhận nhà từ chủ đầu tư không? Chúng tôi phải thực hiện thủ tục bán nhà như thế nào vì tôi mới chỉ có hợp đồng mua nhà chung cư mà chưa được nhận nhà? Hoàng Thạch Hải (Hà Nội)


Trả lời

Theo quy định của pháp luật hiện hành, đến nay dù chưa nhận bàn giao nhà chung cư, nhưng muốn bán nhà này cho người khác, bạn có thể thực hiện được việc này.

Tại điểm b, khoản 6 Điều 18 Thông tư số 16/2010/TT-BXD ngày 1/9/2010 của Bộ xây dựng hướng dẫn một số điều của Nghị định 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 quy định: "Đối với hộ gia đình, cá nhân hoặc tổ chức không có chức năng kinh doanh bất động sản mà bán lại nhà ở đã mua cho tổ chức, cá nhân khác thì còn phải tuân thủ các quy định sau đây:

b) Nếu chưa nhận bàn giao nhà ở từ chủ đầu tư thì được phép chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở theo quy định tại khoản 1 Điều 20 của thông tư này mà không bắt buộc phải thông qua sàn giao dịch bất động sản”.

Như vậy, vợ chồng bạn là hộ gia đình không có chức năng kinh doanh bất động sản có quyền chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở nếu chưa nhận bàn giao nhà ở từ chủ đầu tư.  Do đó, mặc dù chủ đầu tư chưa giao nhà nhưng theo quy định nêu trên, bạn vẫn có quyền bán nhà mà bạn đã ký với chủ đầu tư cho người khác.

Về trình tự và hình thức thực hiện, theo khoản 1 Điều 20 Thông tư số 16/2010/TT-BXD thì các bên có nhu cầu chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai phải lập văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở để cơ quan công chứng chứng nhận theo mẫu quy định tại phụ lục số 14 ban hành kèm theo Thông tư số 16/2010/TT-BXD.

Khi đề nghị công chứng hợp đồng chuyển nhượng nói trên tại phòng công chứng hoặc văn phòng công chứng, các bên phải xuất trình hợp đồng mua bán nhà ở đã ký với chủ đầu tư; nếu chuyển nhượng từ lần thứ hai trở đi thì phải xuất trình văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở lần trước.

Sau khi tiến hành thủ tục công chứng, các bên tiếp tục tiến hành các thủ tục như: Đóng thuế thu nhập cá nhân theo quy định; Liên hệ với chủ dự án đầu tư để ghi nhận việc chuyển nhượng trên. Trong thời hạn tối đa là 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ của bên nhận chuyển nhượng, chủ đầu tư có trách nhiệm xác nhận vào văn bản chuyển nhượng hợp đồng và giao lại cho bên nhận chuyển nhượng, chủ đầu tư không được thu bất kỳ khoản phí nào từ việc chuyển nhượng hợp đồng này.
Luật sư Võ Công Hạnh
(Theo VietQ)

Làm Thế Nào Khi Mua Phải Nền Nhà Dự Án Đã Có Chủ

Hỏi: Tháng 7/2012, tôi có đến ban quản lý của một dự án mua 2 lô nền nhà trong dự án này bằng hình thức "góp vốn đầu tư" và ngay sau đó công ty có ra cho tôi 2 bản hợp đồng của 2 lô nền trên và tôi phải đóng số tiền 70% giá trị hợp đồng.

Sau đó vài ngày có một người điện thoại cho tôi bảo là 2 lô nền đó là của họ và họ cho tôi xem 2 bản hợp đồng cũng giống như của tôi (cũng của 2 lô nền đó).

Tôi liên lạc với ban quản lý dự án thì họ hứa sẽ giải quyết và thu hồi 2 hợp đồng của khách hàng trước trong thời gian ngắn. Nhưng đến nay họ cũng chưa giải quyết xong, họ có gặp tôi bàn đổi cho tôi 2 lô nền khác nhưng tôi không đồng ý. Vì vậy tôi có yêu cầu phải bồi thường hợp đồng và hoàn số tiền mà tôi đã góp lại cho tôi.
Xin hỏi trường hợp như vậy ban quản lý dự án và công ty bất động sản này làm như vậy có đúng không?Tôi có bị thiệt hại gì không? Nếu trường hợp thỏa thuận hoàn tiền cho tôi không được? Và tôi có thể khởi kiện họ không? Hau Phusa (hauphusa@...)

Trả lời

Trường hợp của bạn nêu trong thư chưa rõ ràng hoặc bạn chưa có thông tin đầy đủ. Vì cần phải biết 2 lô nền đất mà chủ đầu tư đã bán cho bạn với hình thức “góp vốn đầu tư” đó, bạn là người ký hợp đồng trước với chủ đầu tư hay bạn là người ký sau.

Nguyên tắc theo Bộ luật dân sự, giao dịch dân sự (trong trường hợp này là hợp đồng góp vốn đầu tư) được ký giữa chủ đầu tư ký với khách hàng nào trước thì phát sinh quyền và nghĩa vụ của hai bên, theo đó họ được quyền nhận nền đất.

Còn lại đối với khách hàng ký hợp đồng sau cũng với nền đất đã ký hợp đồng góp vốn thì chủ đầu tư phải có cách bồi thường cho họ hợp lý vì trong trường hợp này chủ đầu tư hoàn toàn có lỗi dẫn đến hợp đồng sau không thực hiện được.

Chủ đầu tư phải đổi lại nền đất cho khách hàng ký hợp đồng sau hoặc hoàn trả toàn bộ số tiền đã nhận của khách hàng, bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm hợp đồng (tùy thuộc nội dung của hợp đồng góp vốn có quy định như thế nào).

Cũng có thể bạn là người ký hợp đồng sau nhưng do người ký hợp đồng trước với chủ đầu tư vi phạm hợp đồng mà theo hợp đồng đó thì chủ đầu tư có quyền lấy lại nền đất để chuyển nhượng cho người thứ ba mà không cần sự đồng ý của khách hàng. Trong trường hợp này thì quyền lợi của bạn cũng được đảm bảo bằng việc nhận nền đất đã góp vốn đầu tư.

Trường hợp không thỏa thuận được thì bạn có quyền khởi kiện ra tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, nơi có đất hoặc nơi chủ đầu tư có trụ sở chính.
(Theo TTO)

Đất Mua Chung Có Được Chia Sổ Đỏ?

Hỏi: Tôi cùng hai người bạn góp tiền mua chung một mảnh đất. Xin hỏi tôi cần phải làm những thủ tục gì để đảm bảo quyền lợi và tránh xảy ra tranh chấp sau này....

Trường hợp không phải là vợ chồng có được đứng tên chung trên sổ đỏ không?
Ông Vũ Hồng Sơn (tỉnh Nam Định)
Trả lời:
Trước đây, tại khoản 6 Điều 43 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ quy định, đối với trường hợp nhiều người sử dụng đất có quyền sử dụng chung thửa đất thì ghi tên tất cả những người sử dụng đất đó trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trừ trường hợp nhà chung cư.

Nhưng kể từ ngày 1/12/2009, quy định tại Điều 43 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP nêu trên đã bị bãi bỏ theo khoản 3 Điều 29 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Ảnh minh họa
Tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP quy định: Thửa đất có nhiều người sử dụng đất, nhiều chủ sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất thì Giấy chứng nhận được cấp cho từng người sử dụng đất, từng chủ sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất.

Cùng với đó, tại Điều 4, Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc ghi tên người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất trên trang 1 của Giấy chứng nhận như sau:

- Tên cá nhân trong nước;

- Tên của cá nhân người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam;

- Tên người đại diện hộ gia đình (là thành viên của hộ gia đình và cùng có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình);

- Tên cả vợ và chồng trong trường hợp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất là tài sản chung của hai vợ chồng;

- Tên tổ chức trong nước; tổ chức kinh tế là pháp nhân thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài được mua nhà ở tại Việt Nam; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; cơ sở tôn giáo; cộng đồng dân cư.

Trường hợp thửa đất có nhiều tổ chức, hộ gia đình, cá nhân cùng sử dụng đất, cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất thì Giấy chứng nhận được cấp cho từng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sau khi đã xác định được quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của từng người.

Trên mỗi Giấy chứng nhận ghi thông tin của người được cấp; dòng tiếp theo ghi “Cùng sử dụng đất và cùng sở hữu tài sản với người khác” đối với trường hợp cùng sử dụng đất và cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất, hoặc ghi “Cùng sử dụng đất với người khác” đối với trường hợp cùng sử dụng đất, hoặc ghi “Cùng sở hữu tài sản với người khác” đối với trường hợp cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất.

Trường hợp các tổ chức, hộ gia đình, cá  nhân cùng sử dụng đất, cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất có thỏa thuận bằng văn bản về việc cấp một Giấy chứng nhận cho người đại diện (có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật) thì ghi thông tin của người đại diện, dòng tiếp theo ghi “Là người đại diện cho nhóm người cùng sử dụng đất (hoặc cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất, hoặc cùng sử dụng đất và cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất) theo … (ghi tên văn bản và ngày tháng năm ký văn bản thỏa thuận cử đại diện)”.

2 hình thức cấp giấy chứng nhận

Cụ thể vấn đề ông Vũ Hồng Sơn hỏi, hiện nay quy định ghi tên tất cả những người sử dụng đất trên Giấy chứng nhận đối với trường hợp nhiều người sử dụng đất có quyền sử dụng chung thửa đất đã bị bãi bỏ. Chỉ riêng trường hợp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất là tài sản chung của hai vợ chồng thì được ghi tên cả vợ và chồng.

Trường hợp thửa đất có nhiều người sử dụng chung thì có 2 hình thức cấp giấy chứng nhận:

- Một là, cấp giấy chứng nhận cho từng cá nhân sau khi đã xác định được quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của từng người.

- Hai là, cấp chung một giấy chứng nhận nếu những người sử dụng đất có thỏa thuận bằng văn bản (có công chứng theo quy định của pháp luật) về việc cấp một Giấy chứng nhận cho người đại diện của nhóm người cùng sử dụng đất (hoặc cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất, hoặc cùng sử dụng đất và cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất).

Để đảm bảo quyền lợi của mỗi thành viên góp tiền mua chung quyền sử dụng đất và phòng ngừa phát sinh tranh chấp. Tại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (có công chứng), phần thông tin bên nhận chuyển nhượng phải ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, số chứng minh nhân dân của tất cả mọi thành viên trong nhóm người góp tiền mua chung.

Khi làm thủ tục đăng ký biến động quyền sử dụng đất, sang tên chủ sử dụng đất, tất cả thành viên nhóm người góp tiền mua chung phải lập hợp đồng ủy quyền (có công chứng) ủy quyền cho một người đại diện của nhóm đứng tên trên giấy chứng nhận. Lưu ý, nội dung phạm vi ủy quyền chỉ giới hạn trong việc cử người là thành viên trong nhóm đứng tên trên giấy chứng nhận.
Luật sư Trần Văn Toàn
(Theo Chinhphu.vn)

Không Là Vợ Chồng Thì Có Được Đứng Tên Chung Trên Sổ Đỏ?

Hỏi: Tôi cùng hai người bạn góp tiền mua một mảnh đất. Tôi muốn biết thủ tục để đảm bảo quyền lợi và tránh xảy ra tranh chấp sau này. Nếu không là vợ chồng thì có được đứng tên chung trên sổ đỏ không?

Lê Minh Chí (Q.Tân Bình)

Trả lời

Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhiều người cùng “mua”, điều 48 Luật Đất đai năm 2003 quy định:

“Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo từng thửa đất. Trường hợp thửa đất có nhiều cá nhân, hộ gia đình, tổ chức cùng sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho từng cá nhân, từng hộ gia đình, từng tổ chức đồng quyền sử dụng”.

Tại khoản 3, điều 4, thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài nguyên và môi trường quy định:

“Trường hợp thửa đất có nhiều tổ chức, hộ gia đình, cá nhân cùng sử dụng đất thì giấy chứng nhận được cấp cho từng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sau khi đã xác định được quyền sử dụng đất của từng người.

Trên mỗi giấy chứng nhận có ghi thông tin của người được cấp và chú thích “Cùng sử dụng đất với người khác”.

Khoản 3, điều 4, Thông tư 17/2009/TT-BTNMT cũng quy định: “Trường hợp các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân cùng sử dụng đất, cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất có thỏa thuận bằng văn bản về việc cấp một giấy chứng nhận cho người đại diện (có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật)”.

Như vậy, đối với thửa đất có nhiều người sử dụng thì có hai hình thức cấp giấy chứng nhận:

- Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho từng người sử dụng sau khi đã xác định rõ quyền sử dụng đất.

- Cấp chung một giấy chứng nhận nếu những người sử dụng đất có thỏa thuận bằng văn bản.

Các đồng chủ sử dụng đất không phải là vợ chồng vẫn được đứng tên chung trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

LS Trương Thị Hòa
(Theo TTO) 

Định Đoạt Tài Sản Có Trước Hôn Nhân

Hỏi: Bố vợ tôi có mua một mảnh đất và căn nhà trên đó từ năm 1999 khi đang ở với mẹ vợ tôi. Năm 2004, mẹ vợ tôi mất, bố vợ tôi đi bước nữa và hiện sống với vợ sau đến bây giờ.

Mảnh đất này đến nay vẫn chưa được cấp sổ đỏ nhưng có đầy đủ giấy tờ mua của chủ cũ như quyết định phân nhà của cơ quan chủ cũ, quyết định giao đất của thành phố có cơ quan người chủ cũ, các loại phiếu thu tiền của cơ quan chủ cũ, giấy phép xây dựng của chủ cũ và giấy viết tay không có công chứng giữa bố vợ tôi và chủ cũ, biên lai thu thuế đất đứng tên bố vợ tôi, hợp đồng điện nước đứng tên bố vợ tôi.

Xin hỏi, bây giờ bố vợ tôi muốn bán mảnh đất và căn nhà trên và chia cho các anh em vợ tôi thì có cần sự đồng ý của người vợ hiện tại hay không? Xin cám ơn.

Tuan MT (tuanmt@... )

Trả lời

Theo thư của bạn thì nhà của gia đình bạn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Theo pháp luật hiện hành thì nhà chưa có giấy sẽ không được phép mua bán, chuyển nhượng.

Về nguyên tắc, căn nhà này sẽ được cấp giấy cho người có tên trong quyết định giao (cấp) đất, sau đó sẽ thực hiện chuyển nhượng cho người khác mà chủ cũ đã bán.

Đối với tài sản có trước thời kỳ hôn nhân thì là tài sản riêng, thông thường khi định đoạt tài sản này sẽ không cần ý kiến của người kia.

Trân trọng.

Luật sư Huỳnh Văn Nông (www.shlaw.vn)
(Theo TTO)